Tổng đài tư vấn: 1900 6665

UY TÍN

Uy tín là lòng tin

CHUYÊN NGHIỆP

Chuyên nghiệp sẽ giỏi hơn

HIỆU QUẢ

Hiệu quả để thành công
luat su hung
"Có thể ai cũng biết luật, nhưng không phải ai cũng biết vận dụng luật. Người học luật học cách vận dụng đúng luật. Còn các luật sư vận dụng luật một cách khôn khéo nhất "

Luật sư Nguyễn Kiều Hưng

Slide background
Slide background
Slide background
Slide background
Slide background

Không phụng dưỡng cha mẹ có được hưởng thừa kế

Hỏi:

Kính gửi Quý luật sư, tôi tên
Bùi thị Bún, sinh năm 1934. Tôi muôn nhờ Quý luật sư vui lòng giải đáp thắc mắc
của tôi, như sau:

Nhà do vợ chồng tôi tạo nên, sau
1975 Nhà nước quản lý diện tư sản thương nghiệp, nhưng gia đình tôi vẫn ở trong
nhà. Năm 1993 chồng tôi mất. Năm 1994 Nhà nước xoá bỏ diện cải tạo tư sản
thương nghiệp. Năm 2001 được cấp đỏ. Nay tôi muốn cho mướn nhà để có tiền thuốc
men tuổi già. Chỉ có con trai trưởng chăm sóc phụng dưỡng tôi, còn các người
con khác không có chăm sóc. Vậy các con có còn hưởng quyền thừa kế, và tôi cho
mướn nhà có phải hỏi ý kiến cho phép của các con hay không ? Nếu các con không
cho phép thì tôi phải giải quyết như thế nào ?

Kính xin quý luật sư vui lòng
giúp đỡ giải đáp nhanh chóng.

Tôi xin chân thành cám ơn vô
cùng.

Trả
lời
:

Vì căn
nhà này do bạn nói là của hai vợ chồng bạn, ½ căn nhà này thuộc quyền sử hữu của
bạn và ½ thuộc quyền sử dụng của chồng bạn. Năm 1993 chồng bạn chết, tuy nhiên
bạn không nói rõ là chồng bạn có để lại di chúc hợp pháp không, nếu chồng bạn
không để lại di chúc để định đoạt phần di sản của mình hoặc di chúc không hợp
pháp thì ½ căn nhà thuộc sở hữu của chồng bạn sẽ được chia thừa kế theo pháp luật
cho cho hàng thừa kế thứ 1 của chồng bạn là:
Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng,
cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

            Nếu tại thời điểm này căn nhà này vẫn chưa được chia thừa
kế, các bên không tranh chấp thì có thể liên hệ phòng công chứng để kê khai di
sản thừa kế (kê khai di sản thừa kế và những người được thừa kế) hoặc Thỏa thuận
phân chia di sản thừa kế (nếu các bên đã thống nhất cách chia thừa kế). Các bên
có thể thỏa thuận chia thừa kế bằng tiền hoặc bằng nhà, đất và lam thủ tục kê
khai thuế, thực hiện việc đăng ký quyền sở hữu lên văn phòng đăng ký quyền sử dụng
đất Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi có đất.

            Trường hợp nhà, đất là tài sản chung của bà và các con
thì khi thực hiện việc mua bán, tặng cho, cho thuế, thế chấp…phải có ý kiến đồng
ý của các con bà.

Bộ Luật
dân sự 2005 quy định về quyền sử dụng đối với tài sản chung như sau:

Điều 222. Sử dụng tài sản chung

1. Mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền khai thác
công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản chung tương ứng với phần quyền sở
hữu của mình, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định
khác.

2. Các chủ sở hữu chung hợp nhất có quyền ngang nhau
trong việc khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản chung, nếu
không có thoả thuận khác.

Điều 223. Định
đoạt tài sản chung
 

1. Mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền định đoạt
phần quyền sở hữu của mình theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật.

2. Việc định đoạt tài sản chung hợp nhất được thực hiện
theo thoả thuận của các chủ sở hữu chung hoặc theo quy định của pháp luật.

3. Trong trường hợp một chủ sở hữu chung bán phần quyền
sở hữu của mình thì chủ sở hữu chung khác được quyền ưu tiên mua. Trong thời hạn
ba tháng đối với tài sản chung là bất động sản, một tháng đối với tài sản chung
là động sản, kể từ ngày các chủ sở hữu chung khác nhận được thông báo về việc
bán và các điều kiện bán mà không có chủ sở hữu chung nào mua thì chủ sở hữu đó
được quyền bán cho người khác.

Trong trường hợp bán phần quyền sở hữu mà có sự vi phạm
về quyền ưu tiên mua thì trong thời hạn ba tháng, kể từ ngày phát hiện có sự vi
phạm về quyền ưu tiên mua, chủ sở hữu chung theo phần trong số các chủ sở hữu
chung có quyền yêu cầu Toà án chuyển sang cho mình quyền và nghĩa vụ của người
mua; bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại.

4. Trong trường hợp một trong các chủ sở hữu chung từ
bỏ phần quyền sở hữu của mình hoặc khi người này chết mà không có người thừa kế
thì phần quyền sở hữu đó thuộc Nhà nước, trừ trường hợp sở hữu chung của cộng đồng
thì thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu chung còn lại.

            Trong trường hợp bà và các con không thể cùng thỏa thuận
về việc sử dụng và định đoạt đối với nhà và đất này thì có quyền yêu cầu Tòa án
nơi có nhà, đất này xét xử về việc tranh chấp tài sản chung theo quy định tại
02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 về
việc giải quyết
Các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình như sau: 2.4. Không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế

a.
Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa
kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng
thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có
tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa
chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh
chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về
quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để
giải quyết và cần phân biệt như sau:

a.1.
Trường hợp có di chúc mà các đồng thừa kế không có tranh chấp và thoả thuận
việc chia tài sản sẽ được thực hiện theo di chúc khi có nhu cầu chia tài sản,
thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo di chúc.

a.2.
Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thoả thuận về phần mỗi người
được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được
thực hiện theo thoả thuận của họ.

a.3.
Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi
người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó
được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung.

b.
Trường hợp người chết để lại di sản cho các thừa kế nhưng các thừa kế không
trực tiếp quản lý, sử dụng mà di sản đó đang do người khác chiếm hữu bất hợp
pháp hoặc thuê, mượn, quản lý theo uỷ quyền… thì các thừa kế có quyền khởi
kiện người khác đó để đòi lại di sản.

 


ĐẶT CÂU HỎI CỦA BẠN

Mọi câu hỏi xin gửi đến email: lgp@lgp.vn. Nếu cần trả lời khẩn cấp, vui lòng gọi tổng đài tư vấn 1900 6665. Xin cảm ơn!