Theo quy định của pháp luật Việt Nam, các bên trong hợp đồng dịch vụ có những quyền và nghĩa vụ pháp lý cơ bản nào? Sự khác biệt giữa quy định của Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Thương mại về quyền, nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ được thể hiện như thế nào?

Quyền và nghĩa vụ của bên sử dụng dịch vụ
Quyền của bên sử dụng dịch vụ
Theo Điều 516 Bộ luật Dân sự 2015, bên sử dụng dịch vụ có quyền:
“1. Yêu cầu bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc theo đúng chất lượng, số lượng, thời hạn, địa điểm và thỏa thuận khác.
- Trường hợp bên cung ứng dịch vụ vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ thì bên sử dụng dịch vụ có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại.”
Nghĩa vụ của bên sử dụng dịch vụ
Theo Điều 515 Bộ luật Dân sự 2015, bên sử dụng dịch vụ có các nghĩa vụ sau:
“1. Cung cấp cho bên cung ứng dịch vụ thông tin, tài liệu và các phương tiện cần thiết để thực hiện công việc, nếu có thỏa thuận hoặc việc thực hiện công việc đòi hỏi.
- Trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ theo thỏa thuận.”
Ngoài ra, theo Điều 85 Luật Thương mại 2005, trừ trường hợp có thỏa thuận khác, khách hàng (bên sử dụng dịch vụ) còn có các nghĩa vụ:
“Điều 85. Nghĩa vụ của khách hàng
Trừ trường hợp có thoả thuận khác, khách hàng có các nghĩa vụ sau đây:
- Thanh toán tiền cung ứng dịch vụ như đã thoả thuận trong hợp đồng;
- Cung cấp kịp thời các kế hoạch, chỉ dẫn và những chi tiết khác để việc cung ứng dịch vụ được thực hiện không bị trì hoãn hay gián đoạn;
- Hợp tác trong tất cả những vấn đề cần thiết khác để bên cung ứng có thể cung ứng dịch vụ một cách thích hợp;
- Trường hợp một dịch vụ do nhiều bên cung ứng dịch vụ cùng tiến hành hoặc phối hợp với bên cung ứng dịch vụ khác, khách hàng có nghĩa vụ điều phối hoạt động của các bên cung ứng dịch vụ để không gây cản trở đến công việc của bất kỳ bên cung ứng dịch vụ nào.”
Thêm vào đó, căn cứ vào Điều 519 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về Trả tiền dịch vụ
“1. Bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ theo thỏa thuận.
- Khi giao kết hợp đồng, nếu không có thỏa thuận về giá dịch vụ, phương pháp xác định giá dịch vụ và không có bất kỳ chỉ dẫn nào khác về giá dịch vụ thì giá dịch vụ được xác định căn cứ vào giá thị trường của dịch vụ cùng loại tại thời điểm và địa điểm giao kết hợp đồng.
- Bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ tại địa điểm thực hiện công việc khi hoàn thành dịch vụ, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
- Trường hợp dịch vụ được cung ứng không đạt được như thỏa thuận hoặc công việc không được hoàn thành đúng thời hạn thì bên sử dụng dịch vụ có quyền giảm tiền dịch vụ và yêu cầu bồi thường thiệt hại.”
Bên sử dụng dịch vụ có quyền yêu cầu bên cung ứng thực hiện đúng chất lượng, tiến độ và các thỏa thuận khác; đồng thời có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng và đòi bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm nghiêm trọng. Ngược lại, bên sử dụng dịch vụ phải thực hiện các nghĩa vụ cơ bản: cung cấp đầy đủ thông tin, tài liệu, phương tiện cần thiết, thanh toán đúng hạn theo thỏa thuận (hoặc theo giá thị trường nếu không thỏa thuận), hợp tác tích cực và điều phối khi có nhiều bên cung ứng dịch vụ.
Quyền và nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ
Quyền của bên cung ứng dịch vụ
Theo Điều 518 Bộ luật Dân sự 2015, bên cung ứng dịch vụ có quyền:
“1. Yêu cầu bên sử dụng dịch vụ cung cấp thông tin, tài liệu và phương tiện để thực hiện công việc.
- Được thay đổi điều kiện dịch vụ vì lợi ích của bên sử dụng dịch vụ mà không nhất thiết phải chờ ý kiến của bên sử dụng dịch vụ, nếu việc chờ ý kiến sẽ gây thiệt hại cho bên sử dụng dịch vụ, nhưng phải báo ngay cho bên sử dụng dịch vụ.
- Yêu cầu bên sử dụng dịch vụ trả tiền dịch vụ.”
Nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ
Theo Điều 517 Bộ luật Dân sự 2015, bên cung ứng dịch vụ có các nghĩa vụ chính sau:
“1. Thực hiện công việc đúng chất lượng, số lượng, thời hạn, địa điểm và thỏa thuận khác.
- Không được giao cho người khác thực hiện thay công việc nếu không có sự đồng ý của bên sử dụng dịch vụ.
- Bảo quản và phải giao lại cho bên sử dụng dịch vụ tài liệu và phương tiện được giao sau khi hoàn thành công việc.
- Báo ngay cho bên sử dụng dịch vụ về việc thông tin, tài liệu không đầy đủ, phương tiện không bảo đảm chất lượng để hoàn thành công việc.
- Giữ bí mật thông tin mà mình biết được trong thời gian thực hiện công việc, nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.
- Bồi thường thiệt hại cho bên sử dụng dịch vụ, nếu làm mất, hư hỏng tài liệu, phương tiện được giao hoặc tiết lộ bí mật thông tin.”
Ngoài ra, Điều 78 Luật Thương mại 2005 cũng quy định nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ (trừ trường hợp có thỏa thuận khác):
“Từ trường hợp có thoả thuận khác, bên cung ứng dịch vụ có các nghĩa vụ sau đây:
- Cung ứng các dịch vụ và thực hiện những công việc có liên quan một cách đầy đủ, phù hợp với thỏa thuận và theo quy định của Luật này;
- Bảo quản và giao lại cho khách hàng tài liệu và phương tiện được giao để thực hiện dịch vụ sau khi hoàn thành công việc;
- Thông báo ngay cho khách hàng trong trường hợp thông tin, tài liệu không đầy đủ, phương tiện không bảo đảm để hoàn thành việc cung ứng dịch vụ;
- Giữ bí mật về thông tin mà mình biết được trong quá trình cung ứng dịch vụ nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.”
Từ các quy định có thể thấy rõ quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng dịch vụ được xây dựng theo nguyên tắc cân bằng, cụ thể và khả thi. Bộ luật Dân sự 2015 quy định khung nguyên tắc chung, còn Luật Thương mại 2005 bổ sung các nghĩa vụ thực tiễn hơn về hợp tác, điều phối, cung cấp thông tin kịp thời và bảo mật thông tin – phù hợp với đặc thù của hoạt động dịch vụ thương mại.
Trong thực tế, việc các bên tuân thủ nghiêm túc các quy định này sẽ giúp hợp đồng dịch vụ được thực hiện đúng tiến độ, đúng chất lượng, hạn chế tối đa tranh chấp phát sinh và bảo vệ quyền lợi kinh tế của cả bên cung ứng lẫn bên sử dụng dịch vụ. Ngược lại, vi phạm nghĩa vụ (như không thanh toán, không hợp tác, tiết lộ bí mật hoặc không thực hiện đúng cam kết) sẽ dẫn đến quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng và bồi thường thiệt hại theo quy định pháp luật.
Trên đây là thông tin về vấn đề pháp lý liên quan, Quý khách vui lòng liên hệ với Công ty Luật TNHH Hãng Luật Giải Phóng qua Hotline 1900 6665 để được Luật sư tư vấn và hỗ trợ.
Quý khách cũng có thể liên hệ trực tiếp tại địa chỉ: 100 Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận (Phú Nhuận), TP.HCM hoặc qua email: lgp@lgp.vn.
(Nội dung được cung cấp nhằm chia sẻ thông tin và góc nhìn pháp lý mang tính khái quát, hỗ trợ người đọc tiếp cận các quy định hiện hành. Bài viết không được xem là ý kiến tư vấn pháp lý chính thức cho bất kỳ trường hợp cụ thể nào. Do hệ thống pháp luật có thể thay đổi theo từng thời điểm và việc áp dụng phụ thuộc vào từng tình huống thực tế, Quý khách nên trao đổi trực tiếp với luật sư hoặc chuyên gia có chuyên môn để được hướng dẫn phù hợp).
