Trong quan hệ lao động, bên cạnh trường hợp chấm dứt hợp đồng do ý chí của các bên, còn tồn tại những trường hợp người lao động bị mất việc làm do nguyên nhân khách quan từ phía người sử dụng lao động như thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế. Để bảo đảm quyền lợi cho người lao động trong những trường hợp này, pháp luật lao động Việt Nam đã quy định chế định trợ cấp mất việc làm. Đây là một cơ chế quan trọng nhằm hỗ trợ người lao động ổn định cuộc sống khi bị mất việc không do lỗi của mình.

Theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Lao động 2019 quy định:
“Điều 47. Trợ cấp mất việc làm
Người sử dụng lao động trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên mà bị mất việc làm theo quy định tại khoản 11 Điều 34 của Bộ luật này, cứ mỗi năm làm việc trả 01 tháng tiền lương nhưng ít nhất bằng 02 tháng tiền lương.
Thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm.
Tiền lương để tính trợ cấp mất việc làm là tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề theo hợp đồng lao động trước khi người lao động mất việc làm.”
Để hướng dẫn cụ thể hơn, Điều 8 Nghị định 145/2020/NĐ-CP tiếp tục khẳng định trách nhiệm chi trả trợ cấp mất việc làm của người sử dụng lao động
Điều 8 Nghị định 145/2020/NĐ-CP quy định trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm:
“2. Người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp mất việc làm theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật Lao động đối với người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên mà bị mất việc làm theo quy định tại khoản 11 Điều 34 của Bộ luật Lao động.
Trường hợp người lao động có thời gian làm việc thường xuyên cho người sử dụng lao động từ đủ 12 tháng trở lên mất việc làm nhưng thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc làm quy định tại khoản 3 Điều này ít hơn 24 tháng thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động ít nhất bằng 02 tháng tiền lương.
Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trong đó:
c) Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm của người lao động được tính theo năm (đủ 12 tháng); trường hợp có tháng lẻ ít hơn hoặc bằng 06 tháng được tính bằng 1/2 năm, trên 06 tháng được tính bằng 01 năm làm việc
…
Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm được quy định như sau:
a) Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm là tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề theo hợp đồng lao động trước khi người lao động thôi việc, mất việc làm”.
Về cách xác định thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc làm, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Lao động 2019 và khoản 3 Điều 8 Nghị định 145/2020/NĐ-CP quy định thống nhất rằng thời gian này được tính bằng tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động, sau khi trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp và thời gian đã được chi trả trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp mất việc làm trước đó. Đồng thời, thời gian làm việc được quy đổi theo năm, trong đó nếu có tháng lẻ từ đủ 06 tháng trở xuống thì được tính là nửa năm, còn trên 06 tháng thì được tính là một năm.
Về tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp, khoản 3 Điều 47 Bộ luật Lao động 2019 và khoản 5 Điều 8 Nghị định 145/2020/NĐ-CP đều quy định rằng tiền lương để tính trợ cấp mất việc làm là tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề theo hợp đồng lao động trước khi người lao động mất việc làm. Quy định này nhằm đảm bảo mức trợ cấp phản ánh đúng thu nhập thực tế gần nhất của người lao động.
Ví dụ, một người lao động làm việc tại doanh nghiệp từ ngày 01/01/2015 đến ngày 01/01/2023 và bị mất việc làm do doanh nghiệp thu hẹp sản xuất. Trong khoảng thời gian này, người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp đầy đủ từ năm 2015 đến năm 2023. Như vậy, toàn bộ thời gian này sẽ không được tính để hưởng trợ cấp mất việc làm. Tuy nhiên, nếu trong quá trình làm việc có một khoảng thời gian chưa tham gia bảo hiểm thất nghiệp, ví dụ 01 năm đầu tiên, thì thời gian này sẽ được tính. Trong trường hợp tổng thời gian tính trợ cấp dưới 02 năm, người lao động vẫn được hưởng tối thiểu 02 tháng tiền lương theo quy định của pháp luật.
Trên đây là thông tin về vấn đề pháp lý liên quan, Quý khách vui lòng liên hệ với Công ty Luật TNHH Hãng Luật Giải Phóng qua Hotline 1900 6665 để được Luật sư tư vấn và hỗ trợ.
Quý khách cũng có thể liên hệ trực tiếp tại địa chỉ: 100 Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận (Phú Nhuận), TP.HCM hoặc qua email: lgp@lgp.vn.
(Nội dung được cung cấp nhằm chia sẻ thông tin và góc nhìn pháp lý mang tính khái quát, hỗ trợ người đọc tiếp cận các quy định hiện hành. Bài viết không được xem là ý kiến tư vấn pháp lý chính thức cho bất kỳ trường hợp cụ thể nào. Do hệ thống pháp luật có thể thay đổi theo từng thời điểm và việc áp dụng phụ thuộc vào từng tình huống thực tế, Quý khách nên trao đổi trực tiếp với luật sư hoặc chuyên gia có chuyên môn để được hướng dẫn phù hợp).
