Tổng đài tư vấn: 1900 6665

UY TÍN

Uy tín là lòng tin

CHUYÊN NGHIỆP

Chuyên nghiệp sẽ giỏi hơn

HIỆU QUẢ

Hiệu quả để thành công
luat su hung
"Có thể ai cũng biết luật, nhưng không phải ai cũng biết vận dụng luật. Người học luật học cách vận dụng đúng luật. Còn các luật sư vận dụng luật một cách khôn khéo nhất "

Luật sư Nguyễn Kiều Hưng

(Luật sư có mặt trong các vụ án nóng)

Slide background
Slide background
Slide background
Slide background
Slide background

Quyết định Kháng nghị giám đốc thẩm Bản án dân sự phúc thẩm số 361/DSPT ngày 26/11/2004 của Tòa phúc thẩm tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh

1.
Kháng nghị giám đốc thẩm số 04/QĐ-KNGĐT-V5 ngày 18 tháng 01 năm 2006
kháng nghị đối với Bản án dân sự phúc thẩm số 361/DSPT ngày 26/11/2004
của Tòa phúc thẩm tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh.

 Xét
bản án dân sự phúc thẩm số 361/DSPT ngày 26/11/2004  của Toà phúc thẩm
Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hổ Chí Minh, giải quyết vụ kiện
Tranh chấp quyền sử dụng đất, giữa:

Nguyên đơn:

1- ông Chung Sáu, sinh năm 1934;

2- ông Chung Thuỷ, sinh năm 1931  ;

3- Bà Chung Thị Huệ, sinh năm 1945;

Cùng trú tại: Khu phố 1, thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

Bị đơn: Bà Hà Thị Sáu, sinh năm 1925 (Uỷ quyền cho con gái là chị Vũ Huệ Liên, sinh năm 1954)

Trú tại: 41 đường Vĩnh Phú, khu phố 4, thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tứ, tỉnh Bến Tre.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng hộ khẩu với bà Hà Thị Sáu:

1. Vũ Huệ Liên, sinh năm 1954,;

2. Phạm Vũ Minh Triết, sinh năm 1975;

3. Trần Thị Thúy Duyên, sinh năm 1973;

(Triết và Duyên uỷ quyền cho Vũ Huệ Liên);

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là người thân của các nguyên đơn đang định cư ở nước ngoài:

1. Ông Chung Dậu, sinh năm 1942;

2.
Ông Chung Nam, sinh năm 1924, chết ngày 17/11/2003 (có các con là:
Chung Ái Liên, Chung Ngọc Sơn, Chung Ái Hoa, Chung Ái Châu, Chung Ngọc
Danh, Chung Ái Hương, Chung Tuyết Nhung và Chung Ngọc Hưng).

Ông Chung Dậu và các con ông Chung Nam uỷ quyền cho các nguyên đơn.

Cùng trú tại: Liên bang Hoa Kỳ (nước Mỹ).

Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên quyết định giữ nguyên bản án sơ thẩm:

1.
Hộ bà Hà Thị Sáu được quyền sử dụng 508,5m2 đất thuộc thửa 202 tờ bản
đồ số 22 theo căn nhà số 41 đường Vĩnh Phú, khu phố 4, thị trấn Ba Tri,
huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Có tứ cận cụ thể như sau:


Đông giáp đất trống còn lại của thửa 202, có chiều dài 31,4 mét, cộng
01 mét phía trước và 01 mét phía sau, tổng cộng là 33,4 mét;

– Tây giáp phần đất Uỷ ban mặt trận Tổ quốc huyện Ba Tri đang sử dụng, có chiều dài 33,4 mét;


Bắc giáp đất trống còn lại của thửa 202, theo chiều ngang nhà là 13,5
mét, cộng thêm 01 mét của phần đất trống phía Đông, tổng cộng là 14,5
mét;


Nam giáp đất trống còn lại của thửa 202, theo chiều ngang nhà là 13,5
mét, cộng thêm 01 mét của phần đất trống phía Đông, tổng cộng là 14,5
mét và được quyền sử dụng lối đi từ nhà ra đường Vĩnh Phú có chiều ngang
2 mét, chiều dài 12,1 mét cặp sát theo ranh đất Uỷ ban mặt trận Tổ quốc
Ba Tri đang sử dụng.

 2.
Trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật, hộ bà Hà
Thị Sáu phải di dời cây cối, công trình liên quan để giao 737 m2 đất còn
lại của thửa 202, tờ bản đồ số 22, khu phố 4, thị trấn Ba Tri, huyện Ba
Tri, tỉnh Bến Tre cho các ông bà Chung Thuỷ, Chung Sáu và Chung Thị Huệ
hiện cùng trú tại khu phố 1 , thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tri, tỉnh Bến
Tre. Ghi nhận việc hộ bà Hà Thị Sáu không yêu cầu bồi thường công sức,
hoa màu và các công trình xây dựng trên đất tranh chấp.

 3. Huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P.403867 ngày 21 tháng 8 năm 2000 của hộ bà Hà Thị Sáu.

Yêu
cầu Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
cho hộ bà Hà Thị Sáu và cho các ông bà Chung Thuỷ, Chung Sáu và Chung
Thị Huệ phù hợp các diện tích và tứ cận đã ghi tại mục 1 và 2 trên đây.

Ngoài ra còn tuyên án phí.

Sau
án phúc thẩm, bà Hà Thị Sáu khiếu nại. Căn cứ tài liệu có trong hồ sơ
và đơn khiếu nại, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao xét thấy:
Diện tích 1245,5m2 đất có tranh chấp nay thuộc thửa 202, tờ bản đồ số 22
toạ lạc tại số 41 đường Vĩnh Phú, khu phố 4, thị trấn Ba Tri, huyện Ba
Tri, tỉnh Bến Tre thể hiện một phần nằm trong tổng diện tích đất 0ha 40a
40 mà cụ Chung Hữu (cha các nguyên đơn) đứng tên trong bằng khoán số
411 lô 329, tờ bản đồ số 3 đăng ký ngày 9/10/1944 (bút lục 19; 22; 16).
Tuy nhiên cụ Châu Lệ (mẹ chồng bà Hà Thị Sáu) đã đăng ký "bảo tồn cơ bản
sở hữu chủ đất" ngày 13/9/1941 (bút lục 25; 116). Nguyên đơn cho rằng:
Đất trên là của cụ Chung Hữu mua toàn bộ. Bị đơn cho rằng: Bà ngoại của
chồng bà Hà Thị Sáu là cụ Nguyễn Thị Thì mua một phần đất của bằng khoán
số 411 gồm 1500m2 của chủ đất người ấn Độ từ năm 1936, cất nhà ở được 8
năm – năm 1944 , ông Chung Hữu mới mua phần đất còn lại do con nuôi và
là người thừa kế của chủ đất đứng bán và giao toàn bộ bằng khoán số 411
cho ông Chung Hữu. Do chỗ bà con ruột thịt tin tưởng nhau nên không tách
thửa riêng. Gia đình ở đó gần 70 năm, làm kê khai và được Uỷ ban nhân
dân tỉnh Bến Tre cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 21/8/2000 (bút
lục 30) nên không đồng ý giao đất theo yêu cầu của nguyên đơn.

Quá
trình giải quyết vụ án, Toà án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm không tham
khảo ý kiến chính thức của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre là cơ quan có
thẩm quyền cấp giấy chứng nhận sử dụng đất, vì việc xảy ra tranh chấp
quyền sử dụng đất đề nghị cơ quan hành chính ở địa phương giải quyết từ
năm 1993 nhưng sau đó 7 năm (2000) bà Hà Thị Sáu vẫn được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất. Mặt khác, ông Chung Nam và ông Chung Dậu người
liên quan đến nhà đất sang định cư tại Mỹ chưa rõ bằng con đường hợp
pháp hay không hợp pháp? Năm 1979 khi ông Chung Dậu sang định cư tại Mỹ
thì nhà đất thuộc bằng khoán số 411 bị trưng dụng (bút lục 44) và Uỷ ban
nhân dân các cấp quản lý như thế nào chưa rõ. Do đó chưa đủ cơ sở vững
chắc buộc bà Hà Thị Sáu giao trả lại cho phía nguyên đơn 737m2 trên tổng
số 1245,5m2 mà bà Sáu đang sử dụng.

Bởi lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1.
Kháng nghị Bản án dân sự phúc thẩm số 361/DSPT ngày 26/11/2004  của Toà
phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh theo thủ
tục giám đốc thẩm. Đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao
đưa vụ án ra xét xử giám đốc thẩm huỷ toàn bộ án phúc thẩm nêu trên và
án sơ thẩm số 08/DSST ngày 18/8/2004  của Toà án nhân dân tỉnh Bến Tre,
giao hồ sơ về cho Toà án nhân dân tỉnh Bến Tre xác minh, xét xử sơ thẩm
theo đúng quy định của pháp luật.

 2.
Tạm đình chỉ thi hành Bản án dân sự phúc thẩm số 361/DSPT ngày
26/11/2004  của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ
Chí Minh chờ kết quả xét xử giám đốc thẩm./.

 

Kết quả xét xử giám đốc thẩm:

Tại
Quyết định giám đốc thẩm số 07/2006/DS-GĐT ngày 06-4-2006 về vụ án
“Tranh chấp về quyền sử dụng đất”, Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân
tối cao Quyết định:

1.
Huỷ bản án dân sự phúc thẩm số 361/DSPT ngày 26-11-2004 của Toà phúc
thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và bản án dân sự
sơ thẩm số 08/DS-ST ngày 18-8-2004 của Toà án nhân dân tỉnh Bến Tre đã
xét xử vụ án tranh chấp về quyền sử dụng đất giữa các nguyên đơn là ông
Chung Sáu, ông Chung Thuỷ, bà Chung Thị Huệ với bị đơn là bà Hà Thị Sáu.

2. Giao hồ sơ vụ án về Toà án nhân dân tỉnh Bến Tre giải quyết xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

____________________________________________

– Lý do huỷ bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm:

1. Chưa đủ căn cứ để buộc bị đơn trả lại diện tích đất cho các nguyên đơn như quyết định của bản án sơ thẩm và phúc thẩm;

2. Cần điều tra, xác minh thêm về kết quả giải quyết của các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền.

– Nguyên nhân dẫn đến việc huỷ các bản án sơ thẩm và phúc thẩm:

Thiếu sót trong việc xác minh, thu thập và đánh giá chứng cứ.

 


ĐẶT CÂU HỎI CỦA BẠN

Mọi câu hỏi xin gửi đến email: lgp@lgp.vn. Nếu cần trả lời khẩn cấp, vui lòng gọi tổng đài tư vấn 1900 6665. Xin cảm ơn!