Chia tài sản chung vợ chồng như thế nào?

Chia tài sản chung vợ chồng như thế nào?

Hỏi: Nội dung: Xin luật sư tư vấn giúp tôi. Tôi lấy vợ được 4 năm và nay đã có 1 con trai 3 tuổi. Do trục trặc vợ chồng tôi quyết định ly hôn. Vậy quyền nuôi con thuộc về ai (=36 tháng tuổi). Khi ly dị có phải chia tài sản cho con tôi hay không. Khi ly hôn tài sản sẽ được phân chia như thế nào? Tài sản có phải chia đôi hay không? (Tôi có 1 căn nhà đứng tên tôi trước khi lấy vợ. Sau khi lấy vợ được 2 năm anh trai tôi có cho tôi 1 mảnh đất, đứng tên tôi , và vợ tôi là người thừa kế. Vậy mảnh đất đó có thuộc quyền sở hữu chung hay không. Tài sản gửi ngân hàng đứng tên vợ tôi nhưng đó là lao động của 2 người góp lại vậy có được chia đôi hay không). Mong luật sư tư vấn sớm giúp tôi.

Trả lời:

Chào bạn,

 1. Căn cứ vào quy định tại khoản 1, điểm a, b khoản 2 Điều 95 Luật Hôn nhân và Gia đình thì:
– Khoản 1 Điều 95: “việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền sở hữu của bên đó.”
– điểm a, b khoản 2 Điều 95: “a. Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập; b. Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.”
2. Căn cứ vào quy định tại điểm b mục 3 Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 23/12/2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình về tài sản chung của vợ chồng trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ và chồng: “Đề bảo vệ quyền lợi chính đáng của các bên, trong trường hợp tài sản do vợ, chồng có được trong thời kỳ hôn nhân mà pháp luật phải đăng ký sở hữu, nhưng trong giấy chứng nhận quyền sở hữu chỉ ghi tên của vợ hoặc chồng, nếu không có tranh chấp thì đó là tài sản chung của vợ, chồng; nếu có tranh chấp là tài sản riêng thì người có tên trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải chứng minh được tài sản này là do được thừa kế riêng, được tặng riêng trong thời kỳ hôn nhân hoặc tài sản này có được từ nguồn tài sản riêng quy định tại khoản 1 Điều 32. Trong trường hợp không chứng minh được tài sản đang có tranh chấp này là tài sản riêng thì theo quy định tại khoản 3 Điều 27 tài sản đó là tài sản chung của vợ chồng.”
3. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 92 Luật Hôn nhân và Gia đình về việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn thì:
Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ chín tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con. Về nguyên tắc, con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thỏa thuận khác.”
 
Từ các quy định trên:
Thứ nhất, việc có dành một phần tài sản chia cho con bạn hay không là do hai vợ chồng bạn thỏa thuận, không bắt buộc.
Thứ hai, về nguyên tắc khi ly hôn tài sản chia đôi. Tuy nhiên, căn nhà do bạn đứng tên được thừa kế từ anh bạn thì nếu có tranh chấp và bạn chứng minh được bạn được nhận thừa kế riêng thì không phải chia, nếu không chứng minh được thì là tài sản chung. Tương tự như sổ ngân hàng mà vợ bạn đang đứng tên, nếu vợ bạn không chứng minh được là tài sản riêng của vợ bạn thì đó là tài sản chung của vợ chồng và chia đôi.
Thứ ba, con ban đã 36 tháng tuổi nên không áp dụng nguyên tắc giao mẹ trực tiếp nuôi nữa mà do thỏa thuận của hai bên hoặc yêu cầu Tòa án quyết định. Tuy nhiên, vì lợi ích của con hai bên vợ hoặc chồng cũng có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn nếu có đủ điều kiện.

Nếu cần tư vấn thêm, xin vui lòng gọi vào số 1900 6665 gặp tư vấn viên  để được hỗ trợ.

ĐẶT CÂU HỎI CỦA BẠN

Mọi câu hỏi xin gửi đến email: lgp@lgp.vn. Nếu cần trả lời khẩn cấp, vui lòng gọi tổng đài tư vấn 1900 6665. Xin cảm ơn!