Mẹ cho con tài sản, có cần ý kiến của cha?

Mẹ cho con tài sản, có cần ý kiến của cha?

Hỏi:

Ba mẹ em kết
hôn từ năm 1986,hiện có 3 người con, 2 người trên 18 tuổi ( em năm nay 24 tuổi
đang học thạc sỹ, 1 người 22 tuổi đang học đại học năm cuối) và 1 người 14 tuổi,đang
học lớp 9. 

Hiện ba em
có người phụ nữ khác,thường xuyên đánh đập mẹ em, bán tài sản trong nhà mang đi
cho người phụ nữ đó.

Giấy tờ sổ
đỏ,hộ khâu đều đứng tên mẹ em,giờ mẹ em muốn ly hôn nhưng ba em không đồng ý, mẹ
em muốn sang nhượng quyền sử dụng đất lại cho e và người em trên 18 tuổi của em
thì có cần chữ ký của ba em hay không? hoặc nếu mẹ em làm di chúc cho em và người
em trên 18 của em thì có cần chữ ký của ba em hay không. vì ba em sợ ly hôn sẽ
không được tài sản nên giờ có hành động bán tài sản trong nhà hoặc cất dấu làm
của riêng, nên mẹ em chưa thể tiến hành thủ tục ly hôn.

kính mong
anh / chị trong văn phòng luật tư vấn giúp em. Em xin chân thành cảm ơn.

 

Trả lời:

Về câu hỏi
của bạn, Luật Giải Phóng tư vấn như sau:

Trong nội
dung bạn trình bày, bạn không nêu rõ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ)
có trước hay sau khi bố mẹ bạn đăng ký kết hôn. Nên chúng tôi chia ra làm 2 trường
hợp như sau:

– Nếu mảnh đất này có được sau khi kết hôn và mẹ bạn không đưa ra được căn cứ chứng
minh đó là tài sản được cho riêng, thừa kế riêng hoặc hình thành từ nguồn tài sản
riêng thì đó là  tài sản chung của bố mẹ bạn cho dù trên giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất chỉ có tên mẹ bạn. Trong trường hợp này, mẹ bạn không có quyền
tự định đoạt phần tài sản chung ( tặng cho hoặc lập di chúc) nếu không được sự
đồng ý và  ký nhận của ba bạn trên hợp đồng.

– Nếu mảnh đất này mẹ bạn có được trước khi kết hôn thì đó là tài sản riêng
của mẹ bạn trước thời kỳ hôn nhân. Như vậy các giao dịch dân sự liên quan đến
quyền sử dụng miếng đất này không cần phải có chữ ký của ba bạn.

Bạn có thể tham khảo các điều luật sau đây để nắm rõ thêm vấn đề:

 

Điều 27  Luật hôn nhân gia đình hiện hành.

Quyền
sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng.
Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế
riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thoả thuận
.”

Tài sản
chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất.

 

Điều 28 Luật
hôn nhân gia đình hiện hành.

1. Vợ, chồng
có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản
chung.

2. Tài sản
chung của vợ chồng được chi dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện các
nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Việc
xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có
giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình, việc dùng tài sản chung để
đầu tư kinh doanh phải được vợ chồng bàn bạc, thoả thuận, trừ tài sản chung đã
được chia để đầu tư kinh doanh riêng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 của Luật
này.

 

Điều 33 Luật
hôn nhân gia đình hiện hành.

1. Vợ, chồng
có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình, trừ trường hợp
quy định tại khoản 5 Điều này.

2. Vợ, chồng
tự quản lý tài sản riêng; trong trường hợp vợ hoặc chồng không thể tự mình quản
lý tài sản riêng và cũng không uỷ quyền cho người khác quản lý thì bên kia có
quyền quản lý tài sản đó.

3. Nghĩa vụ
riêng về tài sản của mỗi người được thanh toán từ tài sản riêng của người đó.

4. Tài sản
riêng của vợ, chồng cũng được sử dụng vào các nhu cầu thiết yếu của gia đình
trong trường hợp tài sản chung không đủ để đáp ứng.

5. Trong
trường hợp tài sản riêng của vợ hoặc chồng đã được đưa vào sử dụng chung mà hoa
lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định
đoạt tài sản riêng đó phải được sự thoả thuận của cả vợ chồng.

 

Theo điểm
b mục 3 NGHỊ QUYẾT
của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao số
02/2000/NĐ-HĐTP ngày 23 tháng 12 năm 2000
  hướng dẫn áp dụng một số
quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000
thì:

“Để bảo vệ
quyền lợi chính đáng của các bên, trong trường hợp tài sản do vợ, chồng có được
trong thời kỳ hôn nhân mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, nhưng
trong giấy chứng nhận quyền sở hữu chỉ ghi tên của vợ hoặc chồng, nếu không có
tranh chấp thì đó là tài sản chung của vợ chồng; nếu có tranh chấp là tài sản
riêng thì người có tên trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải chứng minh được
tài sản này do được thừa kế riêng, được tặng riêng trong thời kỳ hôn nhân hoặc
tài sản này có được từ nguồn tài sản riêng quy định tại khoản 1 Điều 32 (ví dụ:
được thừa kế riêng một khoản tiền và dùng khoản tiền này mua cho bản thân một
chiếc xe môtô mà không nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng). Trong trường
hợp không chứng minh được tài sản đang có tranh chấp này là tài sản riêng thì
theo quy định tại khoản 3 Điều 27 tài sản đó là tài sản chung của vợ chồng
.”

 

Nếu cần tư
vấn thêm, xin vui lòng gọi vào số 1900 6665 gặp tư vấn viên để
được hỗ trợ

 

ĐẶT CÂU HỎI CỦA BẠN

Mọi câu hỏi xin gửi đến email: lgp@lgp.vn. Nếu cần trả lời khẩn cấp, vui lòng gọi tổng đài tư vấn 1900 6665. Xin cảm ơn!