Có phải chiếm đoạt tiền của công ty?

Có phải chiếm đoạt tiền của công ty?

Hỏi:
Xin chao Luât sư!
Tôi
đang làm nhân viên kinh doanh cua một cty cổ phần. Trong quá trình làm việc tôi
đã thu tiền mặt của khách hàng từ tháng 10/2013 đến 12/2013 số tiền 100triệu đồng
nhưng chưa nộp về cty. Số tiền trên tôi đã dùng vào việc cá nhân, tôi dự định đến
tháng 3/2014 sẽ hoàn trả số tiền trên cho cty, nhưng đến cuối tháng
02/2014  cty phát hiện nên yêu cầu tôi hoàn trả số tiền trên cho cty. Tôi
và ban giám đốc cty đã thỏa thuận tôi phải nộp về cty 70%số tiền trên, số còn lại
cho tôi được khấu trừ vào tiền lương. Đến ngày 25/03/2014 tôi đã nộp 80triệu đồng.
Đến giữa tháng 04/2014, cty yêu cầu tôi phải nộp số tiền còn lại trước ngày
10/05/2014. Nếu đến hạn trên nếu tôi không nộp đủ cty sẽ nhờ bên công an vào xử
lý. Vậy cho tôi hỏi nếu đến hạn trên tôi chư có tiền  để nộp, tôi sẽ bị xử
lý như thế nào. Những thỏa thuận giữa tôi và ban lãnh đạo cty chỉ thỏa thuận miệng. 
Kính
mong luật sư tư vấn cho tôi.
Tôi xin chân thành cám ơn!

Trả lời:

Về câu hỏi của bạn, Luật Giải Phóng tư vấn như sau:

Hành
vi thu tiền mặt từ khách hàng của Công ty để dùng và không hoàn trả lại
cho Công ty có thể cấu thành tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
được
quy định tại Điều 140 Bộ Luật Hình sự.

"1. Người nào có một
trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ
một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây
hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc
đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm,
thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba
năm:

 a) Vay, mượn, thuê tài
sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp
đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

 b) Vay, mượn, thuê tài
sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp
đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả
năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong
các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn
hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá
trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong
các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá
trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất
nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong
các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù
chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá
trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt
nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể
bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức
vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch
thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này.”

Hoặc Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
theo Điều 139
Bộ luật hình sự

“Người nào bằng
thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm
nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây
hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc
đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm,
thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến
ba năm.

2. Phạm tội thuộc
một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất
chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy
hiểm;

d) Lợi dụng chức
vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn
xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài
sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả
nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc
một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm
năm:

a) Chiếm đoạt tài
sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất
nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc
một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai
mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài
sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc
biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể
bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc
toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất
định từ một năm đến năm năm.”

Việc bạn thỏa thuận với công ty và đã trả được 80 triệu chỉ được
xem là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự:

“ Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc
phục hậu quả”

Như vậy, bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một
trong hai tội trên. Cơ quan điều tra sẽ dựa trên các tình tiết cụ thể trong vụ
án để xác mức tội danh phù hợp. Khung hình phạt trong của bạn trong trường hợp này là từ
2 năm đến 7 năm tù.

Nếu cần tư vấn thêm, xin vui lòng gọi vào số 1900
6665 
gặp tư vấn viên để được hỗ trợ

 

ĐẶT CÂU HỎI CỦA BẠN

Mọi câu hỏi xin gửi đến email: lgp@lgp.vn. Nếu cần trả lời khẩn cấp, vui lòng gọi tổng đài tư vấn 1900 6665. Xin cảm ơn!