Tổng đài tư vấn: 1900 6665

UY TÍN

Uy tín là lòng tin

CHUYÊN NGHIỆP

Chuyên nghiệp sẽ giỏi hơn

HIỆU QUẢ

Hiệu quả để thành công
luat su hung
"Có thể ai cũng biết luật, nhưng không phải ai cũng biết vận dụng luật. Người học luật học cách vận dụng đúng luật. Còn các luật sư vận dụng luật một cách khôn khéo nhất "

Luật sư Nguyễn Kiều Hưng

Slide background
Slide background
Slide background
Slide background
Slide background

Tội cố ý gây thương tích hay giết người?

Em tôi cùng mấy người bạn ngồi chơi. Trong lúc đó có đứa bạn nó đến phá. Em tôi đứng ra nói chuyện và bị người đó rút dao tự chế mang trong người đâm vào tim. Hậu quả là em tôi bị chết tại chỗ. Như vậy thì người làm em tôi chết sẽ bị khép vào tội danh nào và sẽ bồi thường tính mạng cho em tôi như thế nào. Mong luật sư giải đáp cho.

Tội cố ý gây thương tích hay giết người?

Tội cố ý gây thương tích hay giết người?

Dưới đây là nội dung tư vấn của luật sư:

Chào bạn!

Đối với vướng mắc của bạn chúng tôi xin đưa ra một số ý kiến tư vấn như sau:

Hành vi của người đã đâm em bạn có dấu hiệu của tội “Giết người” theo điều 93 Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 (BLHS) và tội cố ý gây thương tích theo quy định tại khoản 3 điều 104 Bộ luật hình sự.

Về vấn đề xác định tội danh, đối với hành vi cố ý gây thương tích dẫn đến chết người, người phạm tội thực hiện hành vi nhằm mục đích gây tổn hại sức khỏe cho người bị hại chứ không mong muốn hành vi của mình dẫn đến hậu quả là người đó bị thiệt hại về tính mạng. Hay nói cách khác xét về yếu tố lỗi – thái độ tâm lý bên trong của người phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quảdo hành vi đó gây ra. Trong cấu thành tội phạm của cả hai tội này thì yếu tố lỗi đều được xác định là lỗi cố ý. Tuy nhiên đối với hành vi giết người, người thực hiện hành vi có lỗi cố ý – mong muốn gây ra thiệt hại về tính mạng cho người bị hại. Còn tội cố ý gây thương tích, lỗi cố ý thể hiện ở mong muốn gây tổn hại về sức khỏe cho người bị hại và vô ý gây ra hậu quả làm chết người.

Trở lại với hành vi của người bạn đến gây sự với em bạn, người này có mang dao trong người, và khi thực hiện hành vi đâm dao vào tim em của bạn người này phải ý thức được mức độ nguy hiểm của hành vi này có thể dẫn đến chết người. Xét về yếu tố lỗi trong trường hợp này, người đâm em bạn có thể thuộc trường hợp cố ý phạm tội theo khoản 2 điều 9 bộ luật hình sự 1999, sửa đổi, bổ sung 2009 (BLHS)

Điều 9. Cố ý phạm tội

Cố ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:

  1. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xẩy ra;
  2. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xẩy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.

Tóm lại qua phân tích ở trên, theo quan điểm của tôi người này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người theo quy định tại điều 93 BLHS. Nội dung quy định cụ thể như sau:

Điều 93. Tội giết người

  1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:
  2. a) Giết nhiều người;
  3. b) Giết phụ nữ mà biết là có thai;
  4. c) Giết trẻ em;
  5. d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

  1. e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng;
  2. g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;
  3. h) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;
  4. i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ;
  5. k) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;
  6. l) Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;
  7. m) Thuê giết người hoặc giết người thuê;
  8. n) Có tính chất côn đồ;
  9. o) Có tổ chức;
  10. p) Tái phạm nguy hiểm;
  11. q) Vì động cơ đê hèn.
  12. Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.
  13. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm.”

Vấn đề bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm được quy định tại điều 610 bộ luật dân sự 2005

1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:

  1. a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết;
  2. b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;
  3. c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng.
  4. Người xâm phạm tính mạng của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá sáu mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

Pháp luật không quy định cụ thể mức bồi thường mà tùy từng trường hợp cụ thể người bị thiệt hại hoặc gia đình người bị thiệt hại khi có yêu cầu bồi thường phải chứng minh được thiệt hại. Bạn và gia đình có thể tập hợp những chứng từ, hóa đơn liên quan đến chi phí cho việc mai táng. Tiền cấp dưỡng cho những người mà em bạn có nghĩa vụ cấp dưỡng (nếu có) và thỏa thuận với bên kia một khoản tiền bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần tối đa không quá 60 tháng lương tối thiểu (hiện tại là 1.210.000đ/ tháng).

Bạn có thể tham khảo thêm hướng dẫn tại khoản 2 mục 2 nghị quyết số 3/2006/NQ- HĐTP để hiểu rõ hơn về việc xác định thiệt hại để đưa ra yêu cầu bồi thường.

Mong rằng nội dung tư vấn sẽ giải đáp thắc mắc của bạn.

Nếu cần tư vấn thêm vui lòng gọi 1900 6665 để gặp luật sư hoặc truy cập mục hỏi đáp pháp luật để tìm hiểu thêm.

Mai Hoa

Khi cần thuê luật sư vui lòng liên hệ với hãng luật Giải Phóng qua email lgp@lgp.vn hoặc gọi đường dây nóng luật sư qua số 0963 113 113.


ĐẶT CÂU HỎI CỦA BẠN

Mọi câu hỏi xin gửi đến email: lgp@lgp.vn. Nếu cần trả lời khẩn cấp, vui lòng gọi tổng đài tư vấn 1900 6665. Xin cảm ơn!