Tổng đài tư vấn: 1900 6665

UY TÍN

Uy tín là lòng tin

CHUYÊN NGHIỆP

Chuyên nghiệp sẽ giỏi hơn

HIỆU QUẢ

Hiệu quả để thành công
luat su hung
"Có thể ai cũng biết luật, nhưng không phải ai cũng biết vận dụng luật. Người học luật học cách vận dụng đúng luật. Còn các luật sư vận dụng luật một cách khôn khéo nhất "

Luật sư Nguyễn Kiều Hưng

(Luật sư có mặt trong các vụ án nóng)

Slide background
Slide background
Slide background
Slide background
Slide background

Ôm tiền lương bỏ trốn, có phải tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản?

Xin tư vấn giúp em, trường hợp em là nhân sự tiền lương, sau khi tính lương em có bàn giao tiền lương để phát cho nhân viên, số tiền là 60 triệu, em bàn giao cho anh Giám sát dưới công trình (có Biên bản bàn giao viết tay và có chữ ký người nhận là anh Giám sát).Nhưng sau khi nhận tiền anh ấy không phát cho công nhân mà ôm tiền bỏ trốn. Vậy giờ em có thể đưa đơn kiện anh ấy tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được không ạ?

Và công ty bắt em nếu anh ấy không trả thì em phải là người hoàn trả lại số tiền này cho công ty là đúng hay sai? Xin cảm ơn.

Ôm tiền lương bỏ trốn, có phải tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản?

Ôm tiền lương bỏ trốn, có phải tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản?

Dưới đây là nội dung tư vấn của luật sư:

Chào bạn!

Đối với vướng mắc của bạn chúng tôi xin đưa ra một số ý kiến tư vấn như sau:

Khi nói đến lừa đảo là người ta nghĩ ngay đến sự dối trá của người phạm tội, nên đặc điểm nổi bất của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là thủ đoạn gian dối của người phạm tội. Do đặc điểm riêng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nên người phạm tội chỉ có một hành vi khách quan duy nhất là “chiếm đoạt”, nhưng chiếm đoạt bằng thủ đoạn gian dối.

Thủ đoạn gian dối cũng được thể hiện bằng những hành vi cụ thể nhằm đánh lừa chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản, không có thủ đoạn thuộc về tư tưởng, suy nghĩ của người phạm tội lại không được biểu hiện ra bên ngoài bằng hành vi, cũng chính vì thế mà về lý luận khi phân tích các dấu hiệu khách quan cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì thủ đoạn gian dối của người phạm tội bao gìơ cũng phải có trước hành vi giao tài sản giữa người bị hại với người phạm tội. Lúc này mới là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nếu thủ đoạn gian dối lại có sau khi người phạm tội nhận được tài sản thì không phải là lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà tuỳ từng trường hợp cụ thể mà thủ đoạn gian dối đó có thể là hành vi che giấu tội phạm hoặc là hành vi phạm tội khác như tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Như vậy thời điểm bạn giao tài sản ở đây người giám sát thi công đó chưa có bất cứ biểu hiện nào gian dối để bạn tin tưởng và giao tài sản. Đây không phải là tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà có dấu hiệu của hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định của điều 140 Bộ luật hình sự.

Theo quy định tại điều 140 BLHS 1999 (sửa đổi năm 2009)

“1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

  1. a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;
  2. b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.”

Trường hợp này bạn giao cho giám sát công trình một khoản tiền, thông qua văn bản giao nhận có chữ ký của người giao và người nhận,. Có thể xem đây là một hình thức của hợp đồng giao tài sản. Việc người giám sát chiếm đoạt khoản tiền 60 triệu là hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng thì sẽ bị xử lý theo khoản 2 điều 140 Bộ luật hình sự vì giá trị tài sản thuộc điểm d khoản 2 điều 140. Như vậy công ty bạn có thể làm đơn tố cáo gửi đến cơ quan công an để tố cáo người giám sát thi công đó về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Về trách nhiệm của bạn, bạn sẽ không phải chịu trách nhiệm nếu đã làm đúng quy trình giao tài sản,tiền lương đã được công ty chấp thuận. Việc chiếm đoạt là hành vi của người giám sát, nằm ngoài ý chí của bạn. Trừ trường hợp bạn cố tình làm sai hoặc tuân thủ không đúng quy trình thì sẽ phải chịu trách nhiệm kỷ luật trước công ty.

Mong rằng nội dung tư vấn sẽ giải đáp thắc mắc của bạn.

Nếu cần tư vấn thêm vui lòng gọi 1900 6665 để gặp luật sư hoặc truy cập mục hỏi đáp pháp luật để tìm hiểu thêm.

An Nguyên

Khi cần thuê luật sư vui lòng liên hệ với hãng luật Giải Phóng qua email lgp@lgp.vn hoặc gọi đường dây nóng luật sư qua số 0963 113 113.


ĐẶT CÂU HỎI CỦA BẠN

Mọi câu hỏi xin gửi đến email: lgp@lgp.vn. Nếu cần trả lời khẩn cấp, vui lòng gọi tổng đài tư vấn 1900 6665. Xin cảm ơn!