Căn cứ giảm án tội cố ý gây thương tích

Căn cứ giảm án tội cố ý gây thương tích

Chào các vị luật sư. Tôi là Hoàng Đình Tùng, hiện đang sống tại Bắc Giang. Tôi có một thàng con trai tên là Hùng. Mấy tháng trước, nó đã cùng một số thanh niên trong làng gây gổ với một nhóm thanh niên khác. Vì giữ hạn thù nên nó đã cùng hai người bạn của nó phục kích đánh một người cầm đầu của nhóm thanh niên kia. Thanh niên kia bị đánh phải nhập viện và giám định thương tích lên đến 57%. Sau khi vụ việc xảy ra thì con trai tôi bị bắt, gia đình cũng đã bồi thường cho gia đình thanh niên bị đánh 30.000.000 đồng. Mới đây, Tòa án đưa vụ việc ra xét xử và kết án con trai tôi tội cố ý gây thương tích 1 năm tù. Cho hỏi luật sư, gia đình tôi đã tự nguyện bồi thường và con trai tôi cũng thành khẩn khai báo thì con trai tôi có được giảm án hay không? Tôi cám ơn.

Hai giấy khai sinh, hai hộ khẩu được không?
Căn cứ giảm án tội cố ý gây thương tích

Dưới đây là nội dung tư vấn của luật sư:

Chào bạn!

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi đến cho chúng tôi. Về vướng mắc của bạn, chúng tôi xin giải đáp như sau:

Theo xác định của Tòa án thì con trai bạn phạm tội cố ý gây thương tích. Theo quy định xử phạt quy định tại Điều 104 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi năm 2009 thì:

“Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì  lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật  từ  61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

 4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.”

Theo quy định tại Điều 46 Bộ luạt hình sự 1999 sửa đổi năm 2009 thì:

“Điều 46. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

a) Người phạm tội đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm;

b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả;

c) …

p) Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;

q) ..

2. Khi quyết định hình phạt, Toà án còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ  trong bản án.

3. Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật hình sự quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt.”

Quy định tại Điều 47 Bộ luât hình sự 1999 sửa đổi năm 2009:

“Điều 47. Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật

Khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này, Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật; trong trường hợp điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật, thì Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án.”

Như vậy, trường hợp này, có 2 tình tiết giảm nhẹ nên Tòa án có thể quyết định định mức hình phạt mức thấp nhất của khung hình phạt. Ở đây, chúng tôi hiểu rằng, mức hình phạt là cao nhất trong khung hình phạt mà Tòa án ấn định và qua lời bạn kể thì hiểu rằng Tòa án cũng không đề cập đến những tình tiết giảm nhẹ. Chính vì vậy, bạn có thể làm đơn kháng cáo bản án Tòa đã đưa ra

Mong rằng nội dung tư vấn có thể giải đáp phần nào vướng mắc của bạn.

Nếu cần tư vấn thêm vui lòng gọi 1900 6665 để gặp luật sư hoặc truy cập mục hỏi đáp pháp luật để tìm hiểu thêm.

Ban Biên Tập

Khi cần thuê luật sư vui lòng liên hệ với hãng luật Giải Phóng qua email lgp@lgp.vn hoặc gọi đường dây nóng luật sư qua số 0963 113 113.

ĐẶT CÂU HỎI CỦA BẠN

Mọi câu hỏi xin gửi đến email: lgp@lgp.vn. Nếu cần trả lời khẩn cấp, vui lòng gọi tổng đài tư vấn 1900 6665. Xin cảm ơn!